TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU, TƯ VẤN VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

Center Of Research And Consultancy On Policies And Law Of Financial Investment In Vietnam

2. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN NGHIÊN CỨU, TƯ VẤN ĐẦU TƯ, GIAO DỊCH CHỈ SỐ TÀI CHÍNH PHÁI SINH

    1. Tình hình chung của thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây

Thị trường tài chính (TTTC) là nơi diễn ra việc chuyển giao các nguồn lực tài chính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định nhằm thỏa mãn quan hệ cung cầu về vốn và mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Đối tượng mua bán trên TTTC là các sản phẩm tài chính ngắn hạn hay dài hạn, chúng được chuyển từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn thông qua các công cụ tài chính. Chủ thể tham gia TTTC là những pháp nhân hay thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tham gia trên TTTC, chủ yếu là người tiết kiệm, các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty môi giới, các doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia chuyển đổi thành công và sau hơn 30 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có TTTC. Đến nay, TTTC Việt Nam đã được hình thành về cơ bản và có thể khẳng định sự phát triển của TTTC là động lực quan trọng góp phần phát triển các loại thị trường khác trong nền kinh tế như thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường sức lao động; thị trường bất động sản; thị trường khoa học, công nghệ,.. Thực tiễn quá trình hình thành các thị trường trên thế giới và ở nước ta cho thấy TTTC là một trong những yếu tố cấu thành không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc huy động tiết kiệm và phân bổ các nguồn vốn. TTTC phát triển lành mạnh là nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững.

Trong những năm gần đây, TTTC Việt Nam có bước phát triển vượt bậc, đóng vai trò quan trọng, chủ chốt đối với tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh kinh tế và TTTC thế giới biến động khó lường, kinh tế Việt Nam năm 2018 đã đạt một số thành quả đáng ghi nhận. Đó là, ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá ổn định, dự trữ chỉ số tài chính tăng cao, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhờ vào nỗ lực cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh. Trong đó, hệ thống tài chính Việt Nam được đánh giá phát triển khá lành mạnh và an toàn, bảo đảm tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng và khu vực doanh nghiệp, đồng thời phục vụ hiệu quả tái cấu trúc nền kinh tế.

Thị trường vốn thời gian qua đang dần gia tăng mức đóng góp vào cung ứng vốn cho nền kinh tế. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu so với GDP đã tăng từ 32% năm 2015 lên 75%, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2020. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với GDP tăng gần gấp hai lần, từ 3,4% năm 2015 lên 6,7% năm 2018. Quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ so với GDP cũng tăng từ 16,1% lên 27,4% . Thông qua thị trường vốn, công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã thu về hàng trăm nghìn tỷ đồng cho ngân sách, góp phần nâng cao dự trữ chỉ số tài chính, điển hình như tại Sabeco, Vinamilk… Đồng thời, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, chất lượng quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa được cải thiện đáng kể. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, thị trường vốn đã tạo nên kênh huy động vốn linh hoạt, trực tiếp, hiệu quả đối với các nguồn vốn trong xã hội và từ các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó, giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng.

Năm 2018, nền kinh tế thế giới có nhiều yếu tố tác động khó lường. Các chính sách thuế, thương mại của Mỹ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ và các ngân hàng trung ương lớn có xu hướng dần thắt chặt chính sách tiền tệ, các tác động từ việc Anh rời EU… đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thương mại và đầu tư, cũng như tới lãi suất và tỷ giá của thị trường các nước mới nổi châu Á, trong đó có Việt Nam. Chỉ số chứng khoán VN Index mặc dù chịu tác động mạnh từ các yếu tố bên ngoài nhưng gần như trở lại mức điểm số của năm 2007 là năm chỉ số đạt mức cao nhất kể từ khi ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành điểm sáng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong bối cảnh các dòng vốn quốc tế rút khỏi phần lớn thị trường chứng khoán mới nổi.Thị trường tiền tệ ngày càng phát triển và đi vào ổn định, đáp ứng tốt cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trong 5 năm qua (2014-2020), tổng tín dụng tăng bình quân 17%/năm, thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định. Vốn cung ứng từ hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) lan tỏa tới tất cả các thành phần kinh tế và ngành kinh tế, hỗ trợ hiệu quả cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Vấn đề nợ xấu đã được giải quyết cơ bản, tỷ lệ nợ xấu giảm, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD .

Bên cạnh những thành tựu đạt được, TTTC Việt Nam vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa hai khu vực thị trường tiền tệ và thị trường vốn, theo đó hệ thống TCTD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính. Cung ứng vốn từ khu vực NH chiếm tỷ trọng chính trong tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tổng tài sản của các TCTD chiếm 96% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính. Tỷ trọng tín dụng trên GDP hiện đã ở mức 1,34 lần, do đó cần được kiểm soát và có lộ trình giảm dần . Trong suốt những năm qua, hệ thống NHTM phải thực hiện vai trò cung ứng vốn cho cả nền kinh tế, nên có thể tạo ra những rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản hệ thống trong dài hạn.Thị trường cổ phiếu dù cải thiện về quy mô nhưng nguồn vốn đi vào khu vực kinh tế thực thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) chưa lớn. Thị trường TPDN chưa đáp ứng các chuẩn mực về minh bạch do chưa có tổ chức định mức xếp hạng. Quy mô thị trường TPDN Việt Nam so với GDP (7% GDP) mới bằng 1/3 mức bình quân các quốc gia khu vực châu Á (21% GDP) .Cơ sở hạ tầng TTTC Việt Nam còn nhiều hạn chế, như sản phẩm tài chính còn sơ khai, thiếu đa dạng; cơ sở nhà đầu tư tổ chức còn nhỏ; chất lượng cung cấp thông tin và minh bạch trên thị trường còn khoảng cách so với quốc tế; khung pháp lý về hoạt động của thị trường chưa hoàn thiện. Tổng tài sản hệ thống tài chính Việt Nam mới đạt khoảng 203% GDP, thấp hơn so với các quốc gia hàng đầu ASEAN (trên 300% GDP)

    1.  Sự phát triển của thị trường chỉ số tài chính trên thế giới và những bài học của thị trường Việt Nam

Thị trường giao dịch chỉ số tài chính tại Anh hiện nay được đánh giá là chiếm tỷ trọng giao dịch lớn nhất thế giới. Năm 2017, theo số liệu thống kê có tới hơn 270 ngàn tài khoản giao dịch đang hoạt động tại Anh. Đây là nơi tập trung nhiều nhà giao dịch nhất tại châu Âu, đứng thứ hai là thị trường Đức với 150 ngàn nhà giao dịch.

Theo các chuyên gia thì tại Anh cứ 10 người sẽ có 1 người tham gia thị trường giao dịch chỉ số tài chính trực tuyến trong cuộc đời của họ. Những người trẻ chiếm tỷ lệ chính trong lực lượng tham gia giao dịch trên thị trường này tại Anh, chiếm khoảng 60% tài khoản giao dịch tại đây.

Thị trường chỉ số tài chính Mỹ chiếm vị trí thứ hai trên thế giới. Khoảng 15% số nhà giao dịch chỉ số tài chính trực tuyến trên toàn cầu tập trung tại đây. Thị trường Mỹ chiếm khoảng 18% khối lượng giao dịch mỗi ngày và tỷ lệ này tăng trưởng đều trong các năm qua, tới năm 2010 thì khối lượng giao dịch đạt 900 tỷ USD. Mặc dù khối lượng giao dịch chỉ đứng vị trí thứ hai nhưng đồng USD thì lại chiếm đến 88% tổng số giao dịch toàn cầu. Điều này cho thấy thị trường chỉ số tài chính Mỹ có ảnh hưởng sâu rộng đối với thị trường thế giới do giá trị đồng USD mang lại là rất quan trọng tronng hệ thống tài chính toàn cầu.

Thị trường Nhật Bản, mặc dù là một thị trường châu Á, nhưng chiếm vị trí thứ 3 trên bản đồ giao dịch chỉ số tài chính toàn cầu với hơn 130,000 nhà đầu tư đang hoạt động. Tổng khối lượng giao dịch tại Nhật Bản đạt mức 310 tỷ USD vào năm 2010 và đồng Yên Nhật chiếm vị trí thứ ba trong các đồng tiền được mua bán nhiều nhất trên thế giới.

Thị trường Singapore ngày càng trở nên quan trọng trên hệ thống toàn cầu. Đất nước Đông Nam Á này trở thành trung tâm tài chính của khu vực khi cố gắng dỡ bỏ các rào cản thủ tục và pháp lý để thu hút thêm nhiều người tham gia vào thị trường tài chính. Điều này khiến cho Singapore trở thành điểm thay thế lý tưởng cho các nhà đầu tư từ châu Âu và Nhật Bản, những người muốn tìm kiếm một thị trường nhanh nhạy hơn và hiệu suất hoạt động cao hơn. Rất nhiều nhà môi giới chỉ số tài chính lớn đã chuẩn bị kế hoạch để dịch chuyển hội sở chính đến Singapore để đón đầu làn sóng di cư nhà đầu tư trên toàn cầu đến thiên đường giao dịch này. Vào năm 2019, Singapore có tổng giá trị giao dịch chỉ số tài chính đạt gần 633 tỷ USD chiếm 7.6% toàn cầu, một tương lai hứa hẹn thay thế Nhật Bản trở thành thị trường chỉ số tài chính lớn thứ 3 trên thế giới.

Một trong những thị trường quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ đối với thế giới là Thuỵ Sĩ. Đồng tiền của nước này được mệnh danh là “hầm trú ẩn” an toàn của tài sản người giàu trên thế giới, chiếm 5% lượng giao dịch mua bán ngoại tệ trên toàn cầu. Hệ thống ngân hàng vững mạnh nhất trên thế giới là một nền tảng vững chắc cho tương lai hứa hẹn đối với việc Thuỵ Sĩ sẽ vươn lên trở thành trung tâm giao dịch chỉ số tài chính quan trọng bậc nhất. Tuy nhiên hiện nay Thuỵ Sĩ cũng phải giải quyết vấn đề các ngân hàng có ảnh hưởng quá lớn trên thị trượng, trường hợp cụ thể gần đây phát hiện các bên giao dịch của những ngân hàng này đã thông đồng thành lập hai nhóm bí mật để thao túng tỷ giá hối đoái tại thị trường này.

Tại Việt Nam, vì lý do phải ổn định tỷ giá hối đoái nhằm mục đích tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế nên thị trường chỉ số tài chính tồn tại một số rào cản tham gia nhất định, vì thế số lượng các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường này vẫn còn rất hạn chế. Thị trường chỉ số tài chính Việt Nam được đánh giá có rất nhiều tiềm năng phát triển do nhu cầu chỉ số tài chính gia tăng liên tục qua các năm xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng của dòng vốn đầu tư, kiều hối và các hoạt động xuất nhập khẩu. Môi trường kinh tế vĩ mô, chính trị, văn hoá ổn định góp phần định hình Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư lý tưởng. Đã đến lúc chúng ta cần tận dụng giai đoạn này để thay đổi nhằm bắt kịp sự phát triển tài chính của các nước trên thế giới, mà trong đó thị trường chỉ số tài chính đóng vai trò quan trọng.

    1.  Sự cần thiết ra đời của đề án nghiên cứu, tư vấn đầu tư, giao dịch chỉ số tài chính phái sinh
      1. Cơ sở pháp lý

Quy định của pháp luật Việt Nam về việc đầu tư chỉ số tài chính của các cá nhân là người Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của các văn bản sau:

- Luật Các tổ chức tín dụng;

- Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Pháp lệnh ngoại hối;

- Nghị định 96/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;

- Nghị định 88/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (Nghị định này thay thế Nghị định 96/2014 và có hiệu lực từ ngày 31/12/2019).

Theo Điều 36 Pháp lệnh ngoại hối quy định nguyên tắc kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối như sau:

(i) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức khác được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối ở trong nước và nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản;

(ii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối ở trong nước và nước ngoài, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức khác.

Nói tóm lại tại Việt Nam các tổ chức và cá nhân chỉ có thể mua bán ngoại hối với các tổ chức có giấy phép kinh doanh ngoại hối của NHNN. Như vậy kinh doanh ngoại hối là một hoạt động bị giới hạn nghiêm ngặt tại Việt Nam nhằm giúp ổn định tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, cơ chế ổn định này sẽ bị thay đổi nhanh chóng vì sự gia tăng hội nhập của Việt Nam khiến cho dòng vốn quốc tế cũng như cung cầu ngoại tệ có sự thay đổi nhanh chóng. Việc thiếu đi một thị trường hoạt động hiệu quả đối với chỉ số tài chính đã tạo ra một gánh nặng vô cùng lớn đối với cơ quan quản lý trực tiếp là NHNN.

Về dài hạn, trên cơ sở một Chính phủ kiến tạo có mục tiêu tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp và người dân kinh doanh trên tinh thần cởi mở, tự do và tự chịu trách nhiệm, Chính phủ nên tạo ra cơ chế hộp thử nghiệm “Sandbox” có thể sẽ được thí điểm trong lĩnh vực chỉ số tài chính tại Việt Nam qua đó người dân có thể có thêm kênh đầu tư và kinh doanh bên cạnh các kênh đầu tư khác. Sandbox là khung thể chế thí điểm, cho phép một số ít doanh nghiệp thử nghiệm các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới trong môi trường thực tiễn nhưng có phạm vi và thời gian xác định. Thông qua các trải nghiệm thực tiễn Chính phủ mới triển khai xây dựng khung pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh chỉ số tài chính trong bối cảnh mới. Việc này được thực hiện dưới sự giám sát của các nhà quản lý và có các phương án dự phòng rủi ro phù hợp để ngăn hậu quả của sự thất bại mà không ảnh hưởng lớn đến hệ thống tài chính quốc gia.

      1. Mục đích, ý nghĩa của đề án nghiên cứu, tư vấn đầu tư, giao dịch chỉ số tài chính phái sinh

Mục đích của dề án là đưa tất cả các hoạt động giao dịch lên một nơi tập trung để có thể thu thập được thông tin về thị trường, để các chủ thể: nhà nước, doanh nghiệp, người mua (người bán) tham khảo và có những quyết định đúng đắn. Điều này có nghĩa là khi các giao dịch được đưa lên đề án thì hệ thống thông tin được đề áng lọc để từ đó có một thị trường tài chính minh bạch và công khai.

Các giao dịch thông thường trên thị trường thường phải trải qua 3 bước là: đàm phán – kiểm tra – tiến hành. Quá trình thực hiện 3 bước này mất rất nhiều thời gian. Khi giao dịch qua đề án thì người mua không phải mất nhiều thời gian, bởi rủi ro về tính vật chất của hàng hoá đã được kiểm soát thông qua cơ quan chủ quản. Tại đó, các thủ tục pháp lí diễn ra nhanh gọn, thời gian ngắn, ít gặp rủi ro. Đặc biệt là mọi giao dịch sẽ được Hiệp hội kiểm soát.

Khi giao dịch qua đề án thì khách hàng sẽ được cung cấp dịch vụ môi giới, với một đội ngũ các chuyên gia tư vấn có trình độ cao, sẽ không còn tâm lí sợ bị lừa đảo, giúp người mua và người bán yên tâm với sản phẩm hàng hoá của mình.

Các thông tin do đề án cung cấp sẽ đảm bảo về mặt pháp lí, rõ ràng và trung thực. Mọi thông tin trên đề án cung cấp sẽ được đề áng lọc. Thông qua đề án mà các thông tin được cung cấp trên thị trường là chính xác và kịp thời. Điều này sẽ có ý nghĩa với các chủ thể sau:

  • Đối với nhà nước: Đề án sẽ là nơi cung cấp các thông tin về thị trường chỉ số tài chính cho các cơ quan quản lý một cách chính xác và kịp thời để các cơ quan này nắm bắt được thông tin về tình trạng của thị trường. Đây là cơ sở quan trọng để từ đó nhà nước có những phương pháp quản lý và điều tiết một cách đúng đắn và kịp thời. Do lượng giao dịch nhiều nên vì vậy mà thuế từ các hoạt động giao dịch sẽ đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước. Đề án GD ra đời sẽ khắc phục được vấn đề thị trường chợ đen, nơi những giao dịch mờ ám được thực hiện và người mua và người bán chịu rất nhiều rủi ro. Sự ra đời của đề án giao dịch sẽ giúp nhà nước kiểm soát và quản lí được tình trạng đầu cơ ngoại tệ, điều khiến tỷ giá biến động bất thường.
  • Đối với nhà đầu tư, nhà đầu cơ: việc đề án cung cấp các thông tin chính xác cho các doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa trong việc nắm bắt xu hướng thị trường và để từ đó có chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá đúng đắn và hợp lý tạo nên hiệu quả kinh doanh to lớn. Đề án còn là nơi điều tiết cung cầu một cách hiệu quả nhất đối với hoạt động mua bán ngoại tệ.
  • Đối với nhà giao dịch: những thông tin chính xác trên đề án cung cấp sẽ có ý nghĩa đối với việc quyết định mua vào hay bán ra ngoại tệ. Đề án giao dịch cũng là nơi cung cấp phục vụ tất cả dịch vụ của ngân hàng nhằm giúp công việc giao dịch giữa người mua và người bán diễn ra nhanh chóng, gọn nhẹ và không phiền hà. Khi các giao dịch được diễn ra trên đề án thì chi phí sẽ thấp hơn rất nhiều so với giao dịch trực tiếp trên thị trường.
      1. Hiệu quả dự kiến
        1. Hiệu quả kinh tế

Giao dịch chỉ số tài chính qua đề án mặc dù là một hình thức giao dịch mới mẻ đối với người Việt Nam nhưng lại rất quen thuộc đối với các nước trên thế giới. Bằng chứng nghiên cứu cho thấy việc xây dựng và hoạt động của đề án giao dịch chỉ số tài chính mang lại nhiều giá trị thiết thực cho việc phát triển kinh tế trên nhiều khía cạnh.

Trước tiên, thị trường chỉ số tài chính là thị trường giao dịch lớn nhất trong các thị trường tài chính trên thế giới. Việc thành lập đề án giao dịch chỉ số tài chính là một bước tiến lớn đối với sự phát triển của thị trường tài chính. Với giá trị giao dịch trên thế giới hàng ngàn tỷ mỗi ngày đủ để cho thấy sức hút to lớn của thị trường này, một thị trường với độ đa dạng và thanh khoản cao là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.

Thứ hai, giao dịch qua đề án đã được chứng minh làm giảm chi phí giao dịch cho xã hội, góp phần lưu thông hàng hoá nhanh và hiệu quả hơn.  Đề án giao dịch với nhiệm vụ kết nối nơi thừa vốn và nơi cần vốn ngoại tệ sẽ hỗ trợ hoạt động của nền kinh tế một cách tiết kiệm nhất.

Thứ ba, một nền kinh tế có sự hoạt động hiệu quả của đề án giao dịch chỉ số tài chính hẳn nhiên sẽ được củng cố uy tín trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. Dòng vốn đầu tư gia tăng và các cơ hội từ bên ngoài mang tới là điều hứa hẹn không cần bàn cãi khi đề án giao dịch đi vào hoạt động. Một trong những điều quan ngại nhất đối với nhà đầu tư quốc tế chính là khả năng rút vốn ngoại tệ về nước sau khi đầu tư, và hiển nhiên họ sẽ cảm thấy yên tâm hơn nhiều nếu quốc gia đó có một đề án giao dịch chỉ số tài chính đang hoạt động.

Thứ tư, khơi thông nguồn lực ngoại tệ đang được người dân nắm giữ trong nền kinh tế. Người dân ngại bán ra ngoại tệ một phần vì lý do khó có thể mua lại một cách chính thức từ hệ thống ngân hàng. Nếu hoạt động mua bán ngoại tệ được công khai, minh bạch và diễn ra tự do trên đề án thì một bộ phận lớn ngoại tệ đang được cất giữ sẽ trở lại lưu thông và tăng nguồn cung vốn cho nền kinh tế.

Thứ năm, việc tập trung giao dịch chỉ số tài chính trên đề án sẽ giúp làm giảm đi các giao dịch ngoài thị trường “chợ đen” khiến cho thị trường bị bóp méo và chính phủ thất thu ngân sách. Các nguồn thuế thu được từ hoạt động mua bán trên thị trường sẽ được tái đầu tư để nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượng giám sát giúp cho thị trường hoạt động hiệu quả và liên tục.

        1. Hiệu quả xã hội

Bên cạnh các lợi ích kinh tế đạt được thì việc thành lập đề án giao dịch chỉ số tài chính mang đến những hiệu quả xã hội thiết thực, rõ ràng.

Thứ nhất, việc thành lập đề án giao dịch chỉ số tài chính sẽ tạo ra rất nhiều việc làm mới cho lĩnh vực này. Điều này mang tới nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt ra những thách thức mới cho lĩnh vực đào tạo nhân lực để đáp ứng nhu cầu cung ứng lao động chất lượng.

Thứ hai, do tính chất đặc thù của thị trường chỉ số tài chính hoạt động liên tục với tần suất hoạt động cao và khối lượng lớn nên đòi hỏi hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ tương đối lớn. Điều này sẽ gián tiếp cải tiến hệ thống giao dịch cũ phải thay đổi theo thời gian thực, các loại giao dịch chờ đăng ký lưu ký (T+) không còn phù hợp.

Thứ ba, hệ thống giao dịch đề án giao dịch chỉ số tài chính sẽ kết nối trực tiếp đến các đề án giao dịch chỉ số tài chính trên thế giới. Sự hội nhập tài chính sẽ dẫn đến việc hội nhập sâu rộng trên các mặt khác, giúp nâng cao uy tín và hình ảnh của thị trường Việt Nam trên thế giới.